Friday, December 22, 2023

Linh đạo Mùa đợi chờ

 LINH ĐẠO MÙA ĐỢI CHỜ



Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương
Giáng Sinh 2023

WHĐ (21.12.2023) – Chúng ta bắt đầu năm mới phụng vụ với việc cử hành các Chúa Nhật Mùa Vọng. Mùa Vọng là thời gian chờ đợi và hy vọng. Hội Thánh mời gọi chúng ta cử hành Mùa Vọng với hai mục đích: trước hết là chuẩn bị và cử hành biến cố Con Thiên Chúa giáng sinh tại Bêlem cách đây 2000 năm; Thứ đến là hướng về tương lai, đợi chờ Chúa đến lần thứ hai trong vinh quang trong ngày quang lâm (parousia) để xét xử mọi người.

Mùa Vọng được dịch từ tiếng La Tinh là Adventus, diễn tả hai khía cạnh của đức tin Kitô giáo, khía cạnh khách quan và khía cạnh chủ quan, hay nói cách khác, khía cạnh đến từ phía Thiên Chúa và khía cạnh đến từ phía con người.

1. Thiên Chúa đến

Trước hết, Adventus diễn tả khía cạnh khách quan: ventus có nghĩa là “Chúa đến, hay sự đến của Chúa.” Đây là nét đặc trưng của niềm tin Kitô giáo: Thiên Chúa mà chúng ta tin không phải là một Ý Tưởng hay một Hữu Thể Tuyệt Đối bất khả thụ cảm, cũng không phải là một vị thần ở trên cao, kính nhi viễn chi, không màng gì tới đời sống con người. Thiên Chúa của Kitô giáo không phải là thiên chúa của các triết gia hay của các bậc tri giả, nghĩa là sản phẩm do con người nghĩ ra. Nhưng Thiên Chúa là vị Thiên Chúa của mạc khải, Thiên Chúa tình yêu và giàu lòng thương xót đối với loài người. Vì thế, Người chủ động, đi bước trước để đến với con người, tìm kiếm, gặp gỡ từng người như Kinh Thánh diễn tả ngay từ những trang đầu của sách Sáng Thế: Thiên Chúa tìm kiếm và hỏi Ađam: Ngươi ở đâu? (x. St 3,10-11). Thiên Chúa ấy đi vào lịch sử, đến gặp gỡ con người qua các thời đại, từ Cựu Ước đến Tân Ước, từ xưa tới nay qua từng thế hệ. Người tỏ mình qua các biến cố: Sáng tạo, quan phòng, cứu chuộc và cánh chung.

Thiên Chúa ấy đã đến. Đây là thì quá khứ của Thiên Chúa trong thời gian và lịch sử. Người đã đến và gặp gỡ con người qua việc sáng tạo thế giới và con người. Người đã đến khi sai Con Một mình nhập thể làm người tại Bêlem để ở với loài người cách đây hơn hai ngàn năm trong thân phận tôi đòi, nghèo hèn, khiêm hạ, để cứu độ chúng ta. Thiên Chúa đã đến với con người khi sai Chúa Thánh Thần đến trong ngày lễ Hiện Xuống để hướng dẫn và ở lại với Hội Thánh cho đến ngày tận thế.

Thiên Chúa ấy sẽ đến. Đây là thì tương lai của Thiên Chúa. Người sẽ đến trong vinh quang và quyền năng vào ngày cánh chung, để phán xét kẻ sống và kẻ chết. Lúc đó, Người xuất hiện như vị thẩm phán tối cao để xét xử nhân loại. Lúc bấy giờ số phận mỗi người sẽ được định đoạt. Người lành sẽ được hưởng hạnh phúc thiên đàng. Còn kẻ dữ sẽ bị phạt muôn kiếp trong hoả ngục.

Thiên Chúa ấy cũng đang đến. Đây là thì hiện tại của Thiên Chúa. Người đang đến với mỗi người chúng ta qua từng ngày sống, qua từng biến cố. Đặc biệt, Người đang đến với chúng ta qua bí tích Thánh Thể mà chúng ta cử hành hằng ngày. Người đến trong âm thầm và kín đáo để đồng hành, nâng đỡ và bổ sức cho chúng ta trên hành trình tiến về nhà Cha.

Như thế, Thiên Chúa đã đến, đang đến và sẽ đến với loài người và từng người chúng ta.

2. Ta làm gì để đón Chúa đến?

Thứ đến, từ Adventus diễn tả khía cạnh chủ quan, tức là thái độ của mỗi người hướng về việc Chúa đến. Theo đó, Mùa Vọng diễn tả tính chất vọng cuộc đời, nghĩa là: sống là chờ đợi, là hướng tới tương lai, chờ đợi điều gì đó và Ai đó. Nếu không có hy vọng ta không thể sống được. Nếu không có gì để hướng tới, không có ai đó đang chờ ta và ta chờ đợi, thì cuộc sống này mất ý nghĩa và động lực để sống. Vậy, chúng ta cần có thái độ nào phù hợp để đón Chúa đến?

2.1. Trước hết, thái độ tỉnh thức và sẵn sàng

Phụng vụ Lời Chúa tuần I Mùa Vọng trả lời cho chúng ta câu hỏi ấy: Để đón mừng Chúa đến, ta được mời gọi sống tỉnh thức và sẵn sàng (x. Mc 13,33-37).

Tỉnh thức là gì? Xin thưa: tỉnh thức là không ngủ, là tỉnh táo về phương diện thể lý, tinh thần, tâm linh và luân lý. Về phương diện thể lý, tỉnh thức không ngủ gà ngủ gật; về phương diện tinh thần, tỉnh thức là nhạy bén và nắm bắt những gì là giá trị tinh thần để tìm kiếm và theo đuổi; về phương diện luân lý, tỉnh thức là không rơi vào những cám dỗ và con đường tội lỗi, nhưng luôn bước đi theo con đường công chính và thánh đức.

Cuộc đời này được ví như một đêm dài. Tương lai mới là ngày. Con người sống trong cuộc đời được ví như một giấc mơ, “đời là giấc mơ,” người ta thường thích ngủ, mơ mơ màng màng, hơn là tỉnh thức đợi chờ. Thánh Augustinô đã chí lý khi nói rằng: “Cuộc đời này làm mảnh đất lắm người mê ngủ hơn là những người đang sống và đang thức.” Thời ông Noe, người ta vui chơi, mải mê thế sự, ăn uống, dựng vợ gã chồng, chỉ có gia đình ông Noe là tỉnh thức và biết lắng nghe lời mời gọi của Thiên Chúa để đóng một con tàu chuẩn bị cho lụt hồng thuỷ sắp xảy ra. Khi lụt tới, loài người bị lụt cuốn đi, chỉ còn lại gia đình ông được cứu (x. St 7-8).

Thời Chúa Giêsu cũng vậy, phần lớn người Do Thái cũng không tỉnh thức và sẵn sàng khi Chúa đến với họ, nên họ không nhận ra Chúa Giêsu là Đấng Mêsia mà họ đợi trông. Chỉ một nhóm nhỏ nhận ra Chúa, còn lại là ngủ trong thành kiến và cố chấp của họ.

Tháng 4 năm 1912, con tàu Titanic lần đầu tiên xuyên qua Đại Tây Dương để sang đất nước Mỹ. Trên tàu, người ta ăn uống, vui chơi, mê đắm thú vui hưởng lạc. Đã có những tín hiệu từ rađa và những con thuyền khác báo là có nguy hiểm ở phía trước, vì có những tảng băng ngầm ở dưới biển có thể va vào tàu và làm vỡ tàu. Nhưng mọi người trên thuyền vẫn vui chơi, lễ hội, ca nhạc, không một ai để ý, nên điều gì phải xảy ra thì đã xảy ra. Tàu đã va vào những tảng băng ngầm ấy nên đã bị chìm trong giá lạnh. Có 1500 người bị chết và chỉ vài người sống sót.

Thời đại chúng ta hôm nay, thế gian này cũng lắm kẻ đang ngủ và mải mê với thú vui trần thế, vùi mình trong danh lợi dục, hưởng thụ, và chạy theo vật chất, nên đã xa rời đức tin và đạo lý. Nên rất nhiều người đã mất hướng đi trong cuộc sống.

Triết gia hiện sinh Công Giáo Søren Kierkegaard dùng hình ảnh con tàu vượt biển đại dương để diễn tả rằng, tất cả chúng ta đang ở trên con tàu này, và người thuyền trưởng của con tàu phải luôn tỉnh thức và quan sát về phía trước để xem có gì nguy hiểm cho mọi người trên tàu mà tránh. Ông không chỉ lo cho mình và còn phải lo cho người khác trên thuyền. Mỗi người chúng ta sống trên đời này, chúng ta có sự liên đới và trách nhiệm đối với tha nhân. Chúng ta tỉnh thức và giúp người khác cũng tỉnh thức.

Như thế, thái độ tỉnh thức và sẵn là thái độ cần có và cần thiết để đón Chúa đến với mỗi người. Với thái độ ấy, chúng ta sống cuộc đời này cách ý nghĩa hơn và có thể gặp Chúa bất cứ lúc nào Chúa đến, như người tôi trung luôn sẵn sàng chờ đợi chủ trở về trong đêm khuya (x. Mc 13,35), hay như năm cô khôn ngoan cầm đèn đầy dầu đi đón chàng rể (Mt 24,1-12). Đó là lúc tao phùng gặp gỡ, chứ không phải là giây phút kinh hoàng sợ hãi. Ước gì trong Mùa Vọng này ta sống tỉnh thức và sẵn sàng hơn.

2.2. Hãy dọn đường cho Chúa đến

Nếu Chúa Nhật I Mùa Vọng, Lời Chúa mời gọi chúng ta phải sống tỉnh thức và sẵn sàng; thì Chúa Nhật II Mùa Vọng, Lời Chúa mời gọi chúng ta phải dọn đường và sám hối cho Chúa đến qua lời mời gọi của Isaia và của Gioan Tẩy Giả.

Vào thời đó, dân Do Thái đang phải sống trong cảnh lưu đày ở Babylon. Chính lúc đó, Isaia đến loan báo cho dân một tin đầy hy vọng: Chúa sẽ đến để an ủi dân, sẽ giải thoát dân khỏi cảnh nô lệ và tội lỗi. Nhưng để được như thế, Isaia kêu gọi: “Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng. Hãy lấp mọi hố sâu và hãy bạt mọi núi đồi; con đường con queo hãy làm cho ngay thẳng” (Is 40,5tt). Mọi người sẽ nhìn thấy vinh quang của Thiên Chúa xuất hiện.

Những gì Isaia loan báo được ứng nghiệm trong bài Tin Mừng hôm nay theo thánh Máccô. Đức Giêsu xuất hiện như là Con Thiên Chúa và được Gioan Tẩy Giả làm chứng. Gioan là tiếng kêu trong hoang địa: “Hãy dọn đường Chúa. Hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng.” Gioan là người dọn đường cho Chúa đến bằng lời kêu gọi dân chúng sám hối đời sống và chịu phép rửa. Ông làm chứng cho Chúa bằng chính đời sống chứng tá của mình, một đời sống khắc khổ, khó nghèo và khiêm hạ. Ông làm chứng rằng: “Đấng đến sau tôi, quyền năng hơn tôi. Tôi không đáng cúi xuống cởi dây giày cho Người” (Mc 1,8).

Cũng như Gioan, để dọn đường cho Chúa đến với mình và với người khác, chúng ta cần sám hối, cần chỉnh đốn lại đời sống của mình.

Trong chúng ta, có những hố sâu của tính tham lam, hố sâu của những đam mê danh lợi dục. Cần phải lấp đầy những hố sâu này bằng sự thánh thiện, công chính và khó nghèo.

Trong chúng ta, có những núi đồi của tính kiêu ngạo, của cái tôi phình quá lớn, muốn nâng mình lên, không chịu thua ai, có những núi đồi của tính tự ái và ích kỷ. Cần phải bạt chúng đi bằng những đức tính khiêm nhường và nhân ái.

Trong chúng ta, có những con đường cong queo, đó là tính lươn lẹo, dối trá, giả hình… Cần phải uốn nắn cho ngay thẳng bằng sự thật thà, đơn sơ, liêm chính. Nếu không, chúng ta sẽ không gặp được Người.

2.3. Hãy vui luôn trong Chúa

Với Chúa Nhật III Mùa Vọng, chúng ta đang tiến gần tới đại lễ Giáng Sinh. Khắp nơi đã bừng lên bầu khí Giáng Sinh với việc trang hoàng hang đá, cây thông, đèn điện nơi thành phố cũng như thôn quê. Tất cả đều diễn tả niềm vui Giáng Sinh. Cùng với bầu khí đó, theo truyền thống, Chúa Nhật III này được gọi là Chúa Nhật của niềm vui: “Gaudete in Domino Semper – Hãy vui luôn trong Chúa.”

Tiên tri Isaia loan báo Đấng Mêsia là người được xức dầu bởi Thần Khí và được sai đi để làm chứng nhân cho niềm vui cứu độ. Nhờ việc xức dầu và sai đi này, Đấng Mêsia đến để “loan báo tin mừng cho kẻ nghèo hèn, băng bó những tấm lòng tan nát, công bố lệnh ân xá cho kẻ bị giam cầm, ngày phóng thích cho những tù nhân, công bố một năm hồng ân của Đức Chúa” (Is 61,1-2). Như thế, theo lời ngôn sứ, Đấng Mêsia là người mang niềm vui của Thiên Chúa cho nhân loại.

Như thế, những lời tiên báo của Isaia nay đã được ứng nghiệm. Đấng Mêsia mà dân Chúa đang mong đợi chính là Đức Giêsu, Người mang niềm vui và chính là niềm vui của Thiên Chúa. Thật vậy, Con Thiên Chúa làm người là Tin Mừng lớn nhất cho nhân loại. Người đến để giải thoát con người khỏi cảnh nô lệ của tội lỗi và mang lại ơn cứu độ cho mọi người. Đó là niềm vui lớn lao nhất! Bởi thế, giáo phụ Irênê quả quyết: “Chúa Giêsu vừa là Tin Mừng, vừa là nội dung Tin Mừng.”

Chúng ta cần suy tư xa hơn: ơn cứu độ mà chúng ta có được không phải nhờ những thành tựu khoa học, kỹ thuật, cũng không phải do của cải vật chất, hay ý thức hệ mang lại, nhưng một cách chính yếu, là do ân sủng của Thiên Chúa ban tặng qua Đức Kitô. Thế nên, Kitô giáo căn bản là “tin mừng” hay “tin vui,” dẫu một số người như Nietzsche cho rằng Kitô giáo là sự cản trở niềm vui, bởi vì họ thấy trong đó một loạt những điều cấm chế và luật lệ. Trong thực tế, Kitô giáo là lời loan báo về chiến thắng của ân sủng trên tội lỗi, về sự sống trên sự chết. Và nếu Kitô giáo đòi hỏi sự hy sinh và kỷ luật của lý trí, con tim và cách hành xử, điều đó là chính đáng, bởi vì trong con người luôn có những gốc rễ ích kỷ và độc tố tội lỗi vốn làm cho chúng ta phải buồn phiền vì đánh mất niềm vui đích thực.

Như thế, Chúa Giêsu là niềm vui của nhân loại, là niềm vui của Hội Thánh và của mỗi người chúng ta. Niềm vui đó phát xuất từ trong sâu thẳm nhất của con người, mà không có gì và không ai có thể lấy đi được. Chúng ta được mời gọi chia sẻ niềm vui này với mọi người.

Tuy nhiên, làm sao chúng ta có thể làm chứng cho Chúa chính là niềm vui? Trong Thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica (1 Tx 5,16-24), Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta rằng trong khi đón chờ Chúa đến, chúng ta phải làm chứng cho Chúa bằng cách sống một cuộc đời thánh thiện và xa lánh những gì xấu xa. Thánh Tông Đồ đưa ra ba việc quan trọng cần làm:

Trước hết, “anh em hãy vui luôn trong Chúa,” nghĩa là hãy trải nghiệm niềm vui, rồi mới có thể chia sẻ niềm vui.

Thứ đến, “hãy cầu nguyện không ngừng,” nghĩa là để có niềm vui thực sự, phải luôn kết hợp và sống thân tình với Chúa qua đời sống cầu nguyện.

Thứ ba, “hãy luôn có tâm tình tạ ơn trong mọi hoàn cảnh và đừng dập tắt Thần Khí,” tức là hãy để cho Thánh Thần hướng dẫn.

Như thế, niềm vui là thái độ đặc trưng của người Kitô hữu. Thế nên, nói như bậc thầy tâm linh, “một vị Thánh buồn là một vị thánh đáng buồn.” Một người Kitô hữu buồn là một người không có Chúa, không có niềm vui. Vì lý do này mà Đức Giáo hoàng Phanxicô quả quyết: Vui vẻ, hài hước là 1 trong 5 biểu hiện của sự thánh thiện nơi một người.[1]

2.4. Để Chúa được giáng sinh nơi lòng mỗi người

Linh đạo Mùa Vọng đạt tới tột đỉnh trong tuần IV, nơi khuôn mặt trung tâm của sự đợi chờ, không ai khác, đó chính là Đức Maria, người Mẹ sinh ra Đấng Cứu Thế.

Bài Tin Mừng Luca kể: “Thiên Chúa sai sứ thần Gáprien đến một thành miền Galilê, gọi là Nadarét, gặp một trinh nữ… Trinh nữ ấy tên là Maria ” (Lc 1,26). Thiên thần truyền tin cho trinh nữ ấy biết: cô sẽ thụ thai và sinh một con trai và đặt tên là Giêsu. Người sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời. Đức Maria bối rối và băn khoăn: Việc ấy sẽ xảy ra thế nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng. Được thiên thần giải thích: cô mang thai là do quyền năng Chúa Thánh Thần (x. Lc 1,30-35), Đức Maria thưa: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38). Bằng sự đáp trả này với thiên thần, Mẹ như nói rằng: “Này con đây, con như chiếc bảng trắng, Chúa cứ viết trên đó những gì Ngài muốn.” Hay như ngày hôm nay, chúng ta có thể nói: “Con là tờ giấy trắng, Chúa hãy viết trên con những gì Chúa muốn.”

Bởi vì, ai có thể giải thích thay cho Đức Maria điều sẽ xảy ra nơi mình? Ai có thể tin rằng Đức Maria mang thai là do “quyền năng của Chúa Thánh Thần?” Điều này trước và sau chưa hề xảy ra. Khi nói về đức tin, triết gia Kierkegaard cho rằng: “Tin là dám bước đi trên một con đường mà tất cả các bảng chỉ đường hướng dẫn: hãy quay lại đằng sau, quay lại đằng sau! Tin là như một người ở trên biển rộng mà ở dưới đó có bảy mươi tầng sâu; tin là hành vi của người dám phó thác hoàn toàn trong vòng tay của Đấng Tuyệt Đối.”

Đó chính là hành vi đức tin của Đức Maria. Mẹ đã trải qua những giây phút cô đơn mà không ai có thể chia sẻ với Mẹ ngoài một mình Thiên Chúa. Đức Maria cũng biết đến “nguy cơ của đức tin!” Chấp nhận chương trình của Thiên Chúa có nghĩa là chấp nhận nguy cơ bị hiểu lầm, ném đá và giết chết (x. Đnl 22,20-21). Đối diện với một hoàn cảnh éo le như thế, Đức Maria đã hoàn toàn tín thác vào Thiên Chúa. Mẹ tin vào quyền năng của Thiên Chúa có thể làm được mọi sự. Mẹ đã thưa “xin vâng,” với cặp mắt đóng lại. Mẹ đã tin rằng “không có gì là không thể đối với Thiên Chúa.”

Lời xin vâng của Mẹ không phải là sự đáp trả nửa vời, buồn bã, nhưng là một sự đáp trả trong phó thác, sẵn sàng, vui tươi và hạnh phúc. Bởi thế, tác giả Tin Mừng Luca cố ý diễn tả Đức Maria ở trong tình trạng của niềm vui, khát khao và kiên nhẫn chờ đợi điều sắp xảy tới. Đó là một giây phút hạnh phúc nhất trong cuộc đời của Đức Maria. Tình trạng đó đã khiến Đức Maria vui sướng và cất lên lời kinh Magnificat: “Linh hồn tôi nhảy mừng trong Thiên Chúa.” Đó là giây phút mà một thụ tạo đạt được mục đích của mình vì con người được tạo dựng cho sự tự do, niềm vui và hạnh phúc trong Thiên Chúa.

Trong bối cảnh xã hội hôm nay, đức tin và mẫu gương của Mẹ là bí quyết giúp chúng ta cử hành một mùa Giáng Sinh có ý nghĩa và hướng dẫn cuộc đời chúng ta. Thánh Augustinô nói rằng:

“Đức Maria đã thụ thai và sinh Đức Kitô nhờ đức tin trước khi Mẹ thụ thai và sinh Người trong lòng và trong thân xác mình.”

Chúng ta không thể bắt chước Đức Maria trong việc thụ thai và sinh hạ Chúa Giêsu cách thể lý; trái lại, chúng ta có thể và phải bắt chước Mẹ trong việc mang thai và sinh hạ Chúa cách thiêng liêng, cách tinh thần nhờ đức tin. Tin là “mang thai,” là làm cho Ngôi Lời nhập thể. Điều này được chính Chúa Giêsu quả quyết khi Người nói rằng: “Ai lắng nghe và thực hành Lời Chúa là anh chị em và là mẹ của tôi” (x. Mc 3,33-35). Chúng ta cũng được phúc làm Mẹ của Chúa trong đức tin.

Vì thế, chúng ta hãy xem mình có thể mang thai và sinh hạ Chúa Kitô như thế nào. “Cưu mang Chúa Kitô” có nghĩa là quyết định thay đổi đời sống, thái độ, và suy nghĩ của mình theo các giá trị Tin Mừng. Sinh hạ Chúa Kitô là thực hiện những thay đổi cụ thể trong đời sống, thay đổi thói quen xấu của mình. Chẳng hạn, nếu tôi có những tương quan bất hòa, giờ đây tôi đi làm hòa; nếu tôi không đón nhận các bí tích, giờ đây tôi đến nhà thờ; nếu tôi là người thiếu kiên nhẫn trong nhà, giờ đây tôi cố gắng trở thành người biết cảm thông với người khác hơn…

Nếu trong tối hôm lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu nói: “Thầy khát khao ăn lễ Vượt Qua với anh em” thì hôm nay, Chúa Giêsu cũng muốn nói với chúng ta: “Thầy khát khao mừng lễ Giáng Sinh với anh em.” Trong mùa Giáng Sinh, chúng ta làm hang đá và trang trí đèn điện để mừng lễ. Nhưng chúng ta không chỉ dừng lại ở những hình thức bên ngoài, ăn uống, lễ hội, quà cáp, vui chơi… nhưng còn phải trang trí cả trong tâm hồn và bên trong ta nữa, để Chúa Giêsu thực sự một lần nữa, được giáng sinh trong lòng ta. Bởi lẽ, như Giáo phụ Origene xưa nói: “Sẽ có ích gì cho tôi khi Chúa Giêsu được sinh ra một lần bởi Đức Maria ở Bêlem nếu không được sinh ra nhờ đức tin trong lòng tôi?”[2]

Trong lần Giáng Sinh này, chúng ta sẽ mang gì đến cho Chúa Hài Đồng Giáng Sinh? Như thói quen khi Giáng Sinh về chúng ta tặng cho nhau nhiều món quà. Có một lời cầu nguyện của phụng vụ Chính Thống giáo gợi cho chúng ta những ý tưởng thật tuyệt vời:

“Lạy Chúa Kitô, chúng con sẽ tặng cho Chúa điều gì khi Chúa làm người vì chúng con? Mỗi thụ tạo đều dâng lên Chúa dấu chứng của lòng biết ơn: các thiên thần dâng Chúa lời ca tiếng hát, các tầng trời dâng Chúa ngàn ánh sao, Ba Vua dâng Chúa lễ vật, các mục đồng đến thờ lạy Chúa, trái đất dâng Chúa hang đá, sa mạc dâng Chúa máng cỏ. Còn chúng con, chúng con dâng cho Chúa Đức Mẹ Đồng Trinh.”

Vâng, chúng ta dâng lên cho Chúa Đức Trinh Nữ Maria là món quà quý nhất của toàn thể thụ tạo. Vì Mẹ là kiểu mẫu và bản tóm lược sống động của nền linh đạo Mùa Vọng, mùa đợi chờ Chúa đến!

Kính chúc quý Anh chị em một mùa Giáng Sinh và Năm Mới an lành, thánh đức và đầy ân phúc!



[1] Cf. ĐGH. Phanxicô (Gm. Gioan Đỗ Văn Ngân dịch) Tông huấn Hãy vui mừng và Hoan hỷ, 2018, số 122-128.

[2] Origene, Commentary on Gospel of Luce, 22,3 (SCh 87, 302).

Source:  https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/linh-dao-mua-doi-cho-53183

“Sinh bởi người nữ, sinh dưới quyền Lề luật”: Giáng Sinh theo Thánh Phaolô

 SINH BỞI NGƯỜI NỮ, SINH DƯỚI QUYỀN LỀ LUẬT”: GIÁNG SINH THEO THÁNH PHAOLÔ



La Civiltà Cattolica

WHĐ (20.12.2023) – Đoạn đầu tiên trong Tân Ước liên quan đến sự ra đời của Chúa Giêsu được tìm thấy trong Thư gửi tín hữu Galát: “Nhưng khi thời viên mãn đến, Thiên Chúa đã sai Con Người, sinh bởi người nữ, sinh dưới quyền Lề luật, để cứu chuộc những kẻ ở dưới quyền Lề luật, ngõ hầu ta chịu lấy quyền nghĩa tử” (Gl 4:4-5).

Đây có lẽ là đỉnh điểm của bức thư, trong đó Thánh Phaolô công bố ơn cứu độ đã được ứng nghiệm. Thiên Chúa Cha can thiệp vào tiến trình lịch sử bằng một biến cố ngoại thường, vì thời gian viên mãn (tiếng Hy Lạp: “được làm đầy”) đã đến: thời gian của Đấng Cứu Thế. Những thời đại trước bước ngoặt này không chỉ là thời kỳ trước đó mà còn là thời kỳ chuẩn bị và chờ đợi việc thực hiện những lời hứa của Cựu Ước. Những điều này giờ đây đã trở thành hiện thực vì thời của Đấng Mêsia đã bắt đầu, và đó là thời điểm mới, dứt khoát, thời điểm cứu độ: Thiên Chúa đã sai Con của Ngài là Chúa Giêsu, “sinh bởi người nữ, sinh dưới quyền Lề luật” (Gl 4: 4). Bản Hy Lạp viết chính xác là đã “trở thành con của một người nữ.

Trong một tổng hợp ngoại thường, Thánh Tông Đồ trình bày mầu nhiệm Nhập Thể: trước hết có sự hiện hữu thần linh trước đó của Chúa Giêsu, Đấng là Thiên Chúa và là Con Thiên Chúa; rồi đến bản tính con người của Ngài: Người Con đồng thời là con người, vì Ngài được thụ thai bởi một người phụ nữ. Cách nói “Được sinh ra bởi một người phụ nữ” cho thấy rằng Chúa Giêsu đã thực sự sinh ra là một con người, ngay từ giây phút đầu tiên được tượng thai và bước vào thế giới: nhân tính của Ngài cũng như nhân tính của chúng ta, cần được chăm sóc, quan tâm, trìu mến và yêu thương. Tuy nhiên, điều đó ngay lập tức được làm rõ rằng đó không phải là một nhân tính vinh quang. Ngược lại, lời loan báo cho thấy sự chịu tủi nhục của Chúa Giêsu ngay từ lúc Ngài chào đời. Trong Thư gửi giáo đoàn Rôma, muộn hơn một chút so với Thư gửi giáo đoàn Galát, Thánh Phaolô nói rõ: Thiên Chúa đã “sai chính Con mình đến mang thân xác giống như thân xác tội lỗi” (Rm 8:3), nghĩa là chia sẻ xác phàm tội lỗi, bởi vì Ngài bước vào một thế giới và một lịch sử được đánh dấu bởi sự dữ, bởi nỗi đau, bởi những khốn khổ của con người.

* * *

Cách diễn đạt đầu tiên nhấn mạnh đến sự chịu sỉ nhục của Chúa Giêsu chính là việc Ngài “được sinh ra bởi một người phụ nữ”. Trong Kinh thánh, công thức này chỉ ra thân phận con người, sự yếu đuối và hư hỏng của xác thịt, sự bấp bênh của cuộc sống và sự không chắc chắn của hiện tại. Gióp nói rõ: “Con người do phụ nữ sinh ra, tuổi đời ngắn ngủi, mà âu lo chồng chất. Tựa đoá hoa mới nở đã tàn, con người qua mau, khác nào bóng câu qua cửa sổ” (G 14:1-2). Trong Thánh ca Qumran, “sinh ra từ người phụ nữ” có nghĩa là “được hình thành từ bụi”, “thụ tạo bằng đất sét” (1 QS 11,215; cf. F. García Martínez, Testi di Qumran , Brescia, Paideia, 1996, 95).

Karl Rahner suy ngẫm về ý nghĩa của việc “trở thành xác phàm”: “Vĩnh cửu đã trở thành thời gian, Chúa Con đã trở thành con người, Tinh thần thuần túy, Ngôi Lời - Logos - bao trùm và thấm nhập mọi thực tại, đã trở thành xác phàm, thời gian và đời sống con người đã được biến đổi, vì chính Thiên Chúa đã mặc lấy xác thịt loài người. […] Giờ đây Ngài đã thực sự trở thành con người, thế giới này với số phận của nó đã trở nên gần gũi với trái tim Ngài. Bây giờ đó không chỉ là công việc của Ngài mà còn là một phần của chính Ngài. […] Giờ đây, Ngài cũng ở trên trái đất của chúng ta, nơi đó Ngài không được hưởng một sự hiện hữu nào tốt lành hơn sự hiện hữu của chúng ta, nơi đó không có đặc ân nào được đảm bảo cho Ngài, mà là chịu mọi sự trong số phận của chúng ta: đói khát, mệt mỏi, thù địch, thống khổ khi phải bị tiêu diệt và đón nhận cái chết khốn cùng. Sự thật khó tin nhất là thế này: sự vô hạn của Thiên Chúa đã thâm nhập nỗi thống khổ của con người, hạnh phúc đã mang lấy nỗi buồn chết chóc của trần gian, sự sống đã nhận lấy cái chết trong chính mình” (L'anno liturgico, Meditazioni, Brescia, Morcelliana, 1962, 15f).

Thành ngữ thứ hai nhấn mạnh sự sỉ nhục là “sinh ra dưới Lề Luật” (trong tiếng Hy Lạp không có mạo từ). Chúa Giêsu không chỉ là một con người giữa loài người, mà còn là một người Do Thái: Ngài phải tuân theo luật Môsê. Vì thế, Ngài đến trong tình trạng nô lệ, tình trạng của con người trước khi Đấng Thiên sai đến, chính xác là đúng theo Lề Luật (Gl 4:5), tức là một chuẩn mực bên ngoài, mà người ta phải phục tùng, tuân theo và thậm chí kéo theo án tử. Chúa Giêsu, vốn hoàn toàn tự do trước Lề Luật, đã phục tùng Lề Luật, để trong mọi sự, trở nên ngang hàng với chúng ta, ngoại trừ tội lỗi.

* * *

Tuy nhiên, điều dường như chỉ là sự sỉ nhục thì lại mở ra cho một chiều kích tích cực của tự do và tình huynh đệ. Chúa Giêsu sinh ra dưới Lề Luật để cứu chuộc những ai là nô lệ của Lề Luật. Ngài đã mặc lấy thân xác vốn mang lấy hậu quả của tội lỗi để biến đổi thực tại tội lỗi thành một thứ logic - lý lẽ của tình yêu. Ngài được sinh ra bởi người phụ nữ để tất cả những ai sinh ra bởi phụ nữ đều có thể đón nhận sự gần gũi và liên đới của Ngài.

Đây là cách mà mầu nhiệm nhập thể, vốn ban Chúa Giêsu cho chúng ta, được thành toàn, nhưng mầu nhiệm đó cũng đòi hỏi sự hợp tác không thể thay thế: Thiên Chúa cần con người. “Được sinh ra bởi một người phụ nữ” giả thiết phải có một người mẹ để được sinh ra; “sinh ra dưới Lề Luật” ám chỉ một người cha “hợp pháp”, là người cho phép Ngài bước vào triều đại thiên sai. Đứa trẻ sinh ra không có cha trong thế giới Do Thái thời đó không có quyền công dân, thậm chí không có quyền phát biểu trước công chúng. Không có người cha trần thế, Chúa Giêsu không thể rao giảng Tin Mừng. Khoảng cuối thế kỷ thứ nhất, một giáo sĩ Do Thái đã tìm thấy ở Giêrusalem một loại sổ đăng ký với danh sách những đứa con ngoài giá thú của những phụ nữ đã kết hôn (H. L. Strack – P. Billerbeck, Kommentar zum Neuen Testament aus Talmud und Midrasch, I, München, Beck, 1956, 42). Thiên Chúa cần đến Mẹ Maria và Thánh Giuse để cứu rỗi chúng ta; và Ngài sẽ yêu cầu các tông đồ tiếp tục sứ mạng cứu độ của Ngài trong lịch sử.

Khi cứu độ chúng ta, Chúa Giêsu đã trở thành người anh em của chúng ta và làm cho chúng ta trở thành con cái Thiên Chúa. Thánh Phaolô sử dụng một thuật ngữ pháp lý mang tính kỹ thuật: “hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử” (Gl 4:5). Do đó, thực tại mới là trở thành nghĩa tử, thành viên gia đình của Thiên Chúa: điều đó thiết lập một mối tương quan đặc biệt, thân mật, hoàn toàn cá nhân với Chúa Cha, nhưng với một hệ quả xa hơn: việc trở thành “con cái” bao hàm ân sủng của Chúa Thánh Thần, Thánh Thần của Chúa Giêsu và của Chúa Cha. Phép rửa, tức là việc dìm mình trong Chúa Con, tạo lập lại mối tương quan cá nhân với Thiên Chúa trong cõi lòng chúng ta và cho phép chúng ta kêu lên: “Abba, Cha ơi” (Gl 4:6).

Điều tiếp theo là một Kitô học đồng thời là một cứu độ học: “Người Con hoàn toàn là Người Con cho chúng ta!” (F. Mussner, La lettera ai Galati, Brescia, Paideia, 1987, 422). Ngài được sinh ra trong lịch sử cho chúng ta: một biến cố biến đổi thế giới và ghi dấu lịch sử không thể xóa nhòa. Không phải ngẫu nhiên mà sự ra đời của Ngài đã trở thành bước ngoặt giữa trước và sau Ngài; đó là một điều hoàn toàn mới lạ vì nhờ đó mà dòng chảy các sự kiện của con người được phân biệt giữa “trước Chúa Kitô” và “sau Chúa Kitô”.

* * *

Đây là Lễ Giáng Sinh theo Thánh Phaolô. Thánh Tông đồ không nói về hang đá, máng cỏ, chuồng bò, thiên thần, mục đồng; ngài không nhắc đến tên của Mẹ Maria và thậm chí không nhắc đến Thánh Giuse. Không có Bêlem, không có quán trọ không có chỗ ở; Hêrôđê, các tiến sĩ Luật và các Đạo sĩ đều mất tích. Tuy nhiên, có một điều thiết yếu: sự sinh ra của Đấng Cứu Độ trong xác phàm để cứu độ chúng ta.

Sự xuất hiện của Chúa Giêsu đã chấm dứt tình trạng “không có gì mới dưới ánh mặt trời” của nhà thông thái Qohelet (Gv 1:9) và đã phá hủy trí tuệ của các triết gia cổ đại, những người mà đối với họ mọi thứ đều lặp lại theo chu kỳ và sẽ quay trở lại luôn mãi. Giờ đây có sự mới lạ lớn nhất từng được tỏ lộ trong quá khứ, điều mới lạ duy nhất có giá trị trong lịch sử: đó là sự mới lạ của việc Thiên Chúa đích thân gánh lấy trách nhiệm trong Người Con, Emmanuel, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt 1:22), trong lịch sử của chúng ta, một lịch sử vốn là một tập hợp những đau khổ và thất bại, ngập tràn ích kỷ và tội lỗi; tuy nhiên Chúa Giêsu đã tự mình gánh lấy nó, đảm nhận nó, biến nó thành của riêng mình, yêu thương nó và khi yêu thương nó, Ngài cứu độ nó, bởi vì chỉ những gì thực sự được yêu thương mới được cứu độ. Vì vậy, đêm và bóng tối của lịch sử và của con người trở thành ánh sáng, và chúng trở thành Đêm Thánh.

* * *

Trong Thư gửi Titô, một môn đệ trung thành của Thánh Phaolô, Lễ Giáng Sinh được trình bày dưới một ánh sáng khác: “Quả thế, ân sủng của Thiên Chúa đã được biểu lộ, đem ơn cứu độ đến cho mọi người. Ân sủng đó dạy chúng ta phải từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục, mà sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này” (Tt 2:11-12): một bản văn quan trọng đưa ra định hướng cho đời sống Kitô hữu. Đoạn văn tiếp tục: “Nhưng Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta, đã biểu lộ lòng nhân hậu và lòng yêu thương của Ngài đối với nhân loại. Không phải vì tự sức mình chúng ta đã làm nên những việc công chính, nhưng vì Ngài thương xót, nên Ngài đã cứu chúng ta nhờ phép rửa ban ơn Thánh Thần, để chúng ta được tái sinh và đổi mới. Thiên Chúa đã tuôn đổ đầy tràn ơn Thánh Thần xuống trên chúng ta, nhờ Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng ta” (Tt 3: 4-6). Trong Giáo hội, từ thời xa xưa, đoạn văn cuối cùng này đã được công bố trong phụng vụ Giáng sinh, trong Lễ rạng đông.

Ân sủng của Thiên Chúa, sự tốt lành của Ngài, tình yêu của Ngài (trong tiếng Hy Lạp là philanthrōpia) đã cứu chúng ta, qua phép rửa, “khỏi cảnh nô lệ của đủ thứ đam mê và khoái lạc,” và bởi việc “sống trong gian ác và ganh tị, đáng ghét và ghen ghét lẫn nhau” (Tt 3:3). Bản văn khẳng định rằng điều này xảy ra với việc tuôn đổ Thánh Thần: một động từ được sử dụng  - “đổ ra” - mà ở chỗ khác trong Tân Ước được sử dụng liên quan đến máu Chúa Kitô, máu “đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26:28; Hípri 9:21 -26).

Theo cách này, có một bước ngoặt dứt khoát không chỉ trong lịch sử, mà còn trong đời sống của người Kitô hữu: Thư gửi Titô khẳng định rằng “Đó là điều tốt đẹp và hữu ích cho người ta” (Tt 3:8). Đây là vẻ đẹp của đời sống Kitô giáo: “Từ thời mà sự căm ghét lẫn nhau được coi là điều đương nhiên, thậm chí được coi là cần thiết, để đảm bảo các cam kết trong trật tự công cộng trong các lĩnh vực dân sự và chính trị: do đó, từ ý muốn giết người vốn vẫn luôn có trong việc thực thi quyền lực, chúng ta đã chuyển sang một cảnh huống mới, trong đó viễn cảnh về một cái chết vì tình yêu đã được soi sáng cho chúng ta, nghĩa là, cái chết vì chính trị được coi như việc tước bỏ quyền lực! […] Chúng ta là những người chứng kiến “sự tỏ hiện lòng nhân ái”, tức là tình bạn đích thực và duy nhất dành cho con người, đó là “sự tốt lành của Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ của chúng ta.” […] Do vậy, nơi nào có Chúa Thánh Thần tuôn đổ, thì chúng ta được gắn kết trong mối tương quan hiệp thông với cung cách chết đi của Ngài vì tình yêu, cung cách này đã đánh bại hận thù và khai mở nền chính trị tốt đẹp, như một thứ trách nhiệm chung cao độ” (P. Stancari, Il mistero della pietà, Rende [Cs], R-Accogliere, 2019, 124f).

Cách Vulgata dịch từ ngữ philanthrōpia của văn bản Hy Lạp sang tiếng Latinh (Tt 3:4) cũng giúp soi sáng. Để tôn vinh thần tính của Thiên Chúa, Vulgata đã biến đổi – bằng một cú đột phá thiên tài – philanthrōpia thành “nhân tính” (humanitas), gần như để chỉ ra rằng đối với chúng ta, sự tốt lành và tình yêu của Thiên Chúa là humanitas – mang tính người. Thiên Chúa của chúng ta “có tính người”, và nhân tính là sự tôn vinh thần tính của Ngài. Thánh Tông đồ kết luận: “Đó là lời đáng tin cậy, và tôi muốn anh đặc biệt nhấn mạnh các điểm ấy, để những kẻ đã đặt niềm tin vào Thiên Chúa ra sức trổi vượt về những việc tốt đẹp” (Tt 3:8). Ơn gọi của người Kitô hữu là đóng góp cho công ích, nổi bật bằng đức ái, tức là tham gia vào đời sống của mọi người, do đó cũng tham gia vào đời sống của cộng đồng xã hội và chính trị ở mọi cấp độ.

* * *

Chúng ta cử hành Lễ Giáng Sinh với ánh sáng, với các bài hát và lễ hội vốn dĩ làm chúng ta cảm động một cách sâu sắc, nhưng chúng ta không nên quên rằng vẻ đẹp của lễ Giáng Sinh đối với người Kitô hữu là chứng tá của đời sống đã được rửa tội. Đó là sự kiên trì trong ân sủng, trong cuộc sống mới trong Chúa Kitô, trong việc hiến thân, hiến thân cho anh chị em, trong nhân tính, là điều cần được chia sẻ với người khác và là điều mà Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, đã mạc khải cho chúng ta khi Ngài trở thành con người vì chúng ta. Sự ra đời đó khẳng định giá trị của chiều kích nhân loại chúng ta, bởi vì Lễ Giáng Sinh là lời chúc lành trên tất cả “xác phàm” của chúng ta.

Phêrô Phạm Văn Trung
Chuyển ngữ từ: laciviltacattolica.com (22.12.2021)

Latest post

Năm Thánh 2025- Sắc chỉ "Spes non confundit"

Trong buổi cử hành Phụng vụ Kinh Chiều II lễ Chúa Thăng Thiên ngày thứ Năm 09/05/2024, Đức Thánh Cha Phanxicô đã ban hành  Sắc chỉ công bố N...

Popular posts